Showing posts with label Việt Nam. Show all posts
Showing posts with label Việt Nam. Show all posts

Wednesday, July 7, 2021

Ba lần đổi tiền

Tác giả: Hà Minh Thảo

Từ ngày 30.04.1975, khi cầm tờ giấy bạc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, người dân Sài gòn, một Thủ đô từng có mỹ danh Hòn ngọc Viễn đông, mang một nỗi buồn mất mát : Đồng tiền Việt Nam Cộng hòa sẽ đi vào dĩ vãng… Việc ‘đổi tiền’ bị đảng Cộng sản đưa vào ngữ vựng ‘cách mạng’ khủng bố người dân Việt như một nỗi kinh hoàng vì đây là một vụ cướp bằng luật do nhà nước ban hành.

Monday, July 5, 2021

5 điều nhạy cảm người miền Bắc nên biết về miền Nam

Tác giả: Trịnh Hữu Long

Sự khác biệt vùng miền là chuyện hết sức bình thường, ở nước nào cũng có. Nhưng để cho những sự khác biệt đó trở thành lối ứng xử kỳ thị vùng miền thì là đại họa, bởi nó là ngọn nguồn của bạo lực. Hiểu về những điều khác biệt đó để tìm ra cách ứng xử phù hợp, do vậy, trở nên đặc biệt quan trọng.
Sự khác biệt, và cả kỳ thị, mang tên Bắc Kỳ – Nam Kỳ là một câu chuyện bắt buộc phải có lời giải trong một cộng đồng dân tộc. Trong bài này, tôi xin chia sẻ một số hiểu biết rời rạc của bản thân nhằm giúp những người miền Bắc như tôi hiểu hơn về vài điều nhạy cảm về chính trị của miền Nam. Không có gì là tuyệt đối, tôi không quy chụp mọi thứ cho một vùng miền nào, nhưng có những khác biệt đáng kể mang tính phổ biến.

Sunday, April 1, 2018

Đối Đầu và Đối Diện TÙ chứ không TỘI!

Các bạn thân mến,

Những dòng chữ bạn đang cầm trên tay đến từ 5 anh chị em chúng tôi, những người đã từng vào tù mà chẳng có tội gì, ngay cả xét theo thứ luật của những kẻ bỏ tù chúng tôi.

Nghiệm lại chúng tôi thấy các bản án đó chỉ nhằm mục tiêu duy nhất là răn đe, tạo sợ hãi nơi những ai còn có lòng với đất nước và còn cảm được nỗi đau của bà con chung quanh. Hiện nay, hình ảnh "tù đày" như cái hang đen ngòm. Chẳng ai biết chuyện gì xảy ra trong đó, ngoài hình ảnh người bị còng tay dẫn vào. Và khi không biết thì nỗi sợ nhân gấp đôi, gấp ba.

Chính vì thế mà 5 bóng đèn chúng tôi muốn bật lên, muốn chia sẻ với các bạn những gì chúng tôi đã trải qua, từ cảm xúc, suy tư, đến cả một ít mẹo sống tù. Hy vọng những giòng chữ chân thành này sẽ giúp bạn không còn thấy "cái hang đen ngòm" kia quá ghê gớm nữa; sẽ giúp bạn chuẩn bị đối đầu với những kẻ xấu và đối diện với cảnh tù vì tương lai dân tộc.

Cha ông chúng ta bao đời đã luôn sẵn sàng trả cái giá đắt hơn nhiều cho tương lai của cháu con. Chúng ta, những người mang trong tim cũng dòng máu đó, sẽ vượt qua được cái giá nho nhỏ này.

Chúng tôi xin tặng tập kinh nghiệm đầu tiên này cho bà con nạn nhân tai họa môi sinh do Formosa gây ra, và đặc biệt kính tặng những con người dũng cảm, đang chấp nhận tù đày để đòi công lý cho bà con.

Và xin tặng các Anh Chị thuộc Hội Anh Em Dân Chủ sắp bị đưa ra tòa ngày 5/4/2018 chỉ vì ước nguyện đặt quyền làm chủ đất nước thật sự vào tay dân tộc Việt Nam.

Thursday, March 15, 2018

Hoa Kỳ và Việt Nam: Lòng Tin hay Quyền Lợi Chung?

Tác giả: Nguyễn Tiến Hưng 

Bàn tới lịch sử của cuộc chiến Việt Nam và kinh nghiệm bang giao với Mỹ, cần nhớ lại và mở một dấu ngoặc về “bài học” cũ của VNCH.

Viết về hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson cập cảng Tiên Sa ở Đà Nẵng, Báo Lao Động online thuật lại việc ông Timothy Liston - Phó Tổng Lãnh sự Mỹ tại Sàigòn lên thăm tầu và bế một cậu bé, ông cho em ngồi lên chân rồi cùng vỗ tay với những người bạn nhỏ. Họ cùng hoà ca bài “Trái đất này là của chúng mình”. Câu hát “màu da nào cũng quý cũng yêu” như chính thông điệp của cuộc gặp gỡ.

                         

Tờ báo dẫn lời ông Liston về nỗ lực xây dựng niềm tin giữa hai nước khi ông nói: “Không chỉ có con tàu, chúng tôi đến để xây dựng lòng tin”.

Nghe câu này, chắc nhiều người có thể phản hồi và đặt câu hỏi “nhưng liệu Việt Nam có tin được Mỹ hay không?” Đây cũng là câu hỏi của chính TT Nguyễn Văn Thiệu đặt ra cho Mỹ vào tháng Ba, 1975 (xem Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Chương 9).

Wednesday, March 14, 2018

Toàn cảnh trận chiến Gạc Ma - Cô Lin - Len Đao

Tác giả: Trần Đức Anh Sơn

1. Quần đảo Trường Sa trước trận chiến Gạc Ma - Cô Lin - Len Đao

Sau khi tiếp quản quần đảo Trường Sa từ Việt Nam Cộng hòa vào đầu tháng 5/1975, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (sau đó là Cộng hòa XHCN Việt Nam) tiếp tục thực thi chủ quyền trên quần đảo này. Từ năm 1976, cùng với việc thường xuyên tăng cường lực lượng, vũ khí và phương tiện quân sự cho công tác phòng thủ các đảo, Hải quân Việt Nam đã bắt đầu triển khai xây dựng và củng cố các công trình phòng thủ (công sự, trận địa, hầm hào chiến đấu, đài quan sát, sở chỉ huy…) trên các đảo thuộc quần đảo Trường Sa.

Ngày 14/7/1978, Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ra Quyết định số 478/QĐ-QP, thành lập căn cứ Cam Ranh - Sư đoàn 402, thuộc Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân; với nhiệm vụ xây dựng sở chỉ huy của căn cứ đủ sức bảo đảm cho Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân có thể chỉ huy được lực lượng của mình và chỉ huy tác chiến quân binh chủng hợp thành khi xảy ra chiến đấu ở khu vực Trường Sa.

Về vận chuyển chi viện cho Trường Sa, từ tháng 3 đến tháng 8/1977, Đoàn 125 (Hải đoàn 125) đã chở 2.630 tấn hàng, vật liệu xây dựng cùng với Hải đội 171 hoàn thành kế hoạch vận chuyển 3.730 tấn hàng cho 5 đảo: Trường Sa, Sinh Tồn, Nam Yết, Song Tử Tây và Sơn Ca, phục vụ cho bộ đội phòng thủ đảo và xây dựng các công trình quân sự ở đây.

Trước tình hình Philippines đưa quân chiếm đóng bất hợp pháp bãi An Nhơn và tăng cường hoạt động thăm dò, trinh sát trái phép quanh các khu vực đảo của ta đã đóng giữ (tháng 3/1978), nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, Hải quân Việt Nam đã đưa lực lượng ra đóng thêm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa để tăng cường khả năng củng cố phòng thủ bảo vệ quần đảo này.

Một mặt, Hải quân Việt Nam tập trung các lực lượng tàu vận tải, tàu đánh cá, lực lượng bộ binh của Trung đoàn 146, bộ đội đặc công của Lữ đoàn 126, Trung đoàn Công binh 83 ra chốt giữ bảo vệ các đảo: Trường Sa Đông (Đá Giữa), An Bang, Phan Vinh (Hòn Sập) và Sinh Tồn Đông; mặt khác, chỉ thị cho các đơn vị đang đóng giữ bảo vệ đảo đẩy mạnh các hoạt động huấn luyện, quan sát nắm chắc tình hình trên biển, sẵn sàng chiến đấu và đánh thắng ngay từ trận đầu khi địch có những hành động vũ lực xâm phạm chủ quyền đối với các đảo.

Tuesday, March 6, 2018

Siêu mẫu hạm Mỹ vào Đà Nẵng: Bốn bước ngoặt cuả bang giao Việt – Mỹ

Tác giả: Nguyễn Tiến Hưng

Tác giả nguyên là Tổng trưởng Kế hoạch của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa kiêm cố vấn của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Ông lấy bằng tiến sỹ kinh tế từ đại học Virginia, Hoa Kỳ năm 1965.

***

Khi nghe tin hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson vào Đà Nẵng tháng Ba, 2018, tôi tự hỏi: tại sao không phải Cam Ranh mà là Đà Nẵng, và tại sao lại tháng Ba?

Nhìn lại lịch sử thì ta thấy cái địa danh Đà Nẵng hay gắn liền với những những bước ngoặt của chiến lược Mỹ tại Biển Đông.

Mà kể cũng lạ, những bước ngoặt ấy lại có một sự trùng hợp: đó là nó thường hay xảy ra vào tháng Ba:

  • Tháng Ba, 1965 sau bao nhiêu thẩm định, cân nhắc, Washington đi tới quyết định đưa quân tác chiến vào Việt Nam. Đà Nẵng được chọn làm nơi để bắt đầu. Quyết định này phản ảnh một bước ngoặt quan trọng nhất trong cuộc chiến: sự thay đổi chiến lược từ chiến tranh du kích, chống nổi dậy tới chiến tranh quy ước. 
  • Tháng Ba, 1973: sau Hiệp định Paris, lễ chính thức hạ cờ Mỹ để kết thúc vai trò của quân đội tác chiến tại Việt Nam lại được tổ chức tại sân bay Đà Nẵng. 
  • Tháng Ba, 1975: Tòa Lãnh Sự Mỹ - bộ phận dân sự còn lại của Mỹ - đóng cửa hoàn toàn và rút đi trên con tầu cuối cùng rời cảng Đà Nẵng. 

Bây giờ - tháng Ba, 2018 – siêu hàng không mẫu hạm cập cảng Đà Nẵng. Liệu nó có đánh dấu một bước ngoặt khác hay không? 

 

Trước hết ta nhìn lại những mốc lịch sử của Đà Nẵng liên hệ tới chiến lược của Mỹ:

Việt Nam giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc

Tác giả: Nguyễn Huy Vũ

Ngày 5/3, hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson của Hoa Kỳ viếng thăm Việt Nam đánh dấu một bước mới trong mối quan hệ giữa hai cựu thù Việt Nam và Hoa Kỳ. Gần một năm rưỡi sau khi cầm quyền, chính sách quốc phòng và ngoại giao của chính quyền tổng thống Donald Trump dần định hình. Về mặt cơ bản, chính quyền của tổng thống Donald Trump tiếp tục kế tục chính sách của chính quyền tiền nhiệm trong việc tái bố trí sức mạnh quân sự về châu Á. Tuy vậy, cách tiếp cận của chính quyền Donald Trump khác với chính quyền của Barack Obama.


Sự khác biệt lớn nhất đầu tiên đó là tính bất ngờ trong chiến lược của tổng thống Donald Trump. Giống như những gì ông đã từng biện hộ trong hai cuốn sách của mình, không ai biết rằng chính quyền Mỹ dưới triều Donald Trump sẽ làm gì kế tiếp. Chính vì tính bất ngờ đó mà đối thủ và kể cả các đồng minh đều ở trong trạng thái suy đoán và phòng vệ đối với Hoa Kỳ. Sự bất ngờ và là không chắc chắn trong chiến lược của chính quyền Donald Trump còn thể hiện ở chỗ chính sách đưa ra cho các nước khác nhau sẽ khác nhau, dựa vào lợi ích chiến lược của Hoa Kỳ, chứ không phải dựa trên một khung tiêu chuẩn chung. Lấy ví dụ như Việt Nam và Campuchia. Cả hai nước đều có thành tích vi phạm nhân quyền một cách tồi tệ trong năm qua nhưng Hoa Kỳ hầu như không có sự lên tiếng đáng kể đối với Việt Nam, thậm chí thắt chặt mối quan hệ, trong khi lên án nặng nề Campuchia, cắt các khoản viện trợ và thắt chặt visa của các quan chức đến Hoa Kỳ.

Monday, March 5, 2018

Ba tài liệu mới liên quan đến Biển Đông do một số viên chức cao cấp trong quân lực Hoa Kỳ soạn thảo

Tác giả: Trần Huy Bích

Sau khi Trung Cộng dùng binh lực cướp quần đảo Hoàng Sa từ Việt Nam tháng 1 năm 1974, rồi bộc lộ tham vọng muốn độc chiếm Biển Đông, nhiều cuốn biên khảo về Hoàng Sa, Trường Sa, các đảo, các bãi đá, tài nguyên, cùng tình trạng pháp lý trên Biển Đông đã được học giới quốc tế soạn thảo. Hầu hết tác giả các sách ấy là những nhà nghiên cứu dân sự. Năm 2001, một Hải quân Đại tá của Hoa Kỳ, giáo sư tại National War College ở Washington, DC là Đại tá Bernard D. Cole cho xuất bản cuốn The Great Wall at Sea để trình bày những nghiên cứu của ông về hải quân Trung Cộng. Cuốn sách rất được chú ý và đã Học viện Hải quân Hoa Kỳ tại Annapolis, Maryland tái bản với những cập nhật cần thiết năm 2010. Nhưng nội dung cuốn ấy cũng chỉ trình bày chính sách bành trướng của Cộng sản Trung Hoa một cách khái quát, rồi đến việc tổ chức hải quân, các loại tàu, tàu ngầm, máy bay yểm trợ, các loại võ khí. Sang lãnh vực nhân sự, cuốn sách nói tới cơ cấu tổ chức, các chuyên viên, việc huấn luyện, và thể thức điều động của hải quân Trung Cộng.





The Great Wall at Sea: China’s Navy in the 21st Century

2nd ed. Annapolis, MD : Naval Institute Press, 2010

Sunday, March 4, 2018

Nhạc sỹ Tuấn Khanh: Những gì còn lại

Tác giả: Tuấn Khanh

Trong đám tang của Chris Kyle, tay bắn tỉa lừng danh nhất nước Mỹ, qua đời năm 2015 ở Texas, người ta nhìn thấy chiếc xe tang đi qua một đoạn đường dài hơn 300 cây số mà suốt hai bên đường, luôn có người dân đứng vẫy cờ hoặc nghiêm chào tiễn biệt.



Đó là một hình ảnh xúc động hiếm có về cái chết của một con người. Chris Kyle làngười lính SEAL được ca ngợi như một thiên thần hộ mạng vì đã cứu cả trăm đồng đội của mình trên chiến trường Trung Đông nhờ tài bắn tỉa. Anh giải ngũ, trở về nhà và sau đó chết như một người lính.

Rằm tháng Giêng Mậu Tuất, tức ngày 2/3/2018 tại Sài Gòn, đám tang của nhạc sĩ, đại tá Nguyễn Văn Đông cũng xuất hiện một cảnh tượng xúc động tương tự. Khi lễ di quan diễn ra, nhiều người đàn ông mặc thường phục, không ai bảo ai, đã bất ngờ đưa tay lên chào theo kiểu nhà binh. Thấp thoáng trong những hàng khác, cũng có những cá nhân im lặng đưa tay chào, không cần hiệu lệnh. Hầu hết đó là những cựu thiếu sinh quân VNCH cùng trường với ông, và những người khác là cựu quân nhân đã chào tiễn biệt ngài đại tá Chánh Văn phòng của Tổng Tham mưu Phó quân lực Việt Nam Cộng Hòa về nơi an nghỉ cuối cùng.

Hiểm hoạ Trung Cộng và bài học Thổ Nhĩ Kỳ

Tác giả: Trần Trung Đạo

Chiến tranh sẽ đến. Không cần phải là nhà tiên tri hay nhà khoa học xã hội cũng có thể đoán được. Lịch sử loài người đã chứng minh chiến tranh và hòa bình là hai mặt biện chứng trong tiến trình phát triển của xã hội loài người. Vegetius trong tác phẩm nổi tiếng Quan tâm về các vấn đề quân sự (De Re Militari) xuất bản vào thế kỷ thứ năm viết “Muốn có hòa bình, hãy chuẩn bị chiến tranh”. Từ chiến tranh bộ lạc sang chiến tranh thuộc địa, chiến tranh khu vực, chiến tranh thế giới, chiến tranh giải phóng dân tộc, chiến tranh lạnh, chiến tranh giữa những người cùng chủng tộc, trong từng giờ, từng phút máu của nhân loại đã và đang đổ xuống tại nhiều nơi trên trái địa cầu ngày càng chật hẹp này.


Trong lúc chiến tranh là một sự kiện khó thể tránh khỏi, trong đó, nhiều nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát và quyết định của giới lãnh đạo và nhân dân các quốc gia nạn nhân, những nhà lãnh đạo khôn ngoan, có tầm nhìn xa, biết chọn đúng thế đứng chính trị, không những tránh được chiến tranh mà còn vận dụng các xung đột quốc tế để đem về các lợi ích lâu dài cho quốc gia họ.

Tuesday, February 27, 2018

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Tác giả: Mạnh Kim 

Rồi từng người của thế hệ vàng son kiến tạo ra nền văn hóa vàng son lần lượt ra đi. Quy luật nghiệt ngã của thời gian không ai cưỡng lại được. Điều đáng tiếc là di sản văn hóa của thế hệ vàng son gần như chỉ được lưu giữ ở những người thuộc vài thế hệ kế tiếp và giờ ngày càng mờ dần đi theo năm tháng, trong khi sự đứt gãy văn hóa đã không được tiếp nối bằng những thế hệ ngang tài và ngang tầm. Sẽ không bao giờ văn hóa Việt Nam tạo ra được sự rung cảm dữ dội và mang lại sự chấn động tâm thức khơi dậy tình người và tình quê hương như những gì mà thế hệ của những Nguyễn Văn Đông làm được, chừng nào nghệ sĩ còn quỳ cúi trước mệnh lệnh cung đình và tự do sáng tạo còn chưa được cởi mở.

Dưới đây là một đoạn hồi ký của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, chép lại như một cách để tưởng nhớ ông (nguồn: trang Mượn Dấu Thời Gian)

                                 

Vào năm 1956, đơn vị tôi đóng quân ở Chiến khu Đồng Tháp Mười, được xem là mặt trận tiền tiêu nóng bỏng vào thời bấy giờ. Khi ấy, tôi mang cấp bực Trung úy, mới 24 tuổi đời, còn bạch diện thư sinh. Tuy hồn vẫn còn xanh nhưng tâm tình đã nung trong lửa chín ở quân trường. Chính tại Đồng Tháp Mười, vùng đất địa linh nhân kiệt, đã gợi hứng cho tôi sáng tác những bản hùng ca như "Súng Đàn", "Vui Ra Đi", một thuở được hát vang trong Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu. Rồi tiếp sau đó là các bản nhạc “Phiên Gác Đêm Xuân”, “Chiều Mưa Biên Giới”, “Sắc Hoa Màu Nhớ” được ra đời cũng tại vùng đất thiêng này. Khi đi vào vùng hỏa tuyến, là chàng trai trẻ độc thân, với một mối tình nho nhỏ thời học sinh mang theo trong balô, tôi bước nhẹ tênh vào cuộc chiến đầu đời.

Tuesday, January 30, 2018

Câu chuyện đầu năm: Nhìn lại bàn cờ Mỹ-Việt

Tác giả: Nguyễn Quang Dy

Quốc gia không có bạn hay thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích vĩnh viễn (“Nations have no permanent friends or foes, they only have permanent interests”) -- Lord Palmerston.


Ngày 19/1/2018, tại Đại học John Hopkins, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Jim Mattis đã công bố phiên bản rút ngắn của Chiến lược Quốc phòng – National Defense Strategy (NDS), chỉ vài ngày trước khi đi thăm Đông Nam Á. Chiến lược Quốc phòng (NDS) và Chiến lược An ninh Quốc gia (NSS) là hai văn kiện quan trọng nhất để ấn định chính sách của chính quyền Trump sau một năm cầm quyền. Như tình cờ, ông Mattis đến thăm Việt Nam (24-25/1/2018), chỉ vài ngày trước lễ kỷ niệm 50 năm “Tết Mậu Thân”. Tại Hà Nội, ông Mattis đã gặp các lãnh đạo cao nhất của Việt Nam (một quốc gia cựu thù, nay thành đối tác chiến lược). Sau khi thông báo tàu sân bay USS Carl Vinson sẽ đến thăm Đà Nẵng (tháng 3/2018) bộ trưởng quốc phòng Mattis đã đến thăm chùa Trấn Quốc như một cử chỉ có ý nghĩa tượng trưng.

Monday, August 28, 2017

Loạt bài Trịnh Vĩnh Bình

Khánh An (VOA), trọn 5 kỳ. 

Kỳ 1: Đi theo tiếng gọi ‘Về nước đầu tư’ 
Trước năm 1975, gia đình ông Trịnh Vĩnh Bình có một cửa hàng bán sỉ vải ở Thương xá Châu Hải Thành, quận 6, Sài Gòn. Gia đình ông còn làm thêm nghề nuôi tằm, dệt vải.
Năm 1976, ông cùng vợ, 3 con và vài anh em vượt biên ra nước ngoài. Sống tại trại tạm cư Songkhla, Thái Lan, hơn 4 tháng thì gia đình được sắp xếp đi định cư theo diện tị nạn tại Hà Lan.
Năm ấy, ông Bình 29 tuổi.
“Vua Chả Giò”
Những năm đầu chân ướt chân ráo đến quốc gia Âu châu xa lạ, ông Bình kiếm sống bằng cách đi “làm hãng” và làm nghề thông dịch viên, mặc dù “vốn tiếng Hà Lan còn rất yếu.”
Nung nấu ý định tiếp tục kinh doanh, ngoài giờ làm, ông tranh thủ đăng ký học khóa vải sợi thời trang tại Đại học Mở Detex Amsterdam, với ý định sẽ làm giàu với nghề “gấm hoa” đã từng có nhiều kinh nghiệm từ Việt Nam.

Wednesday, August 9, 2017

Chủ nghĩa Marx trong khảo cứu và phê bình văn học ở miền Nam Việt Nam (1954-1975)

Huỳnh Như Phương

Trong khảo cứu và phê bình văn học ở miền Nam Việt Nam, chủ nghĩa Marx giữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Khác với những trào lưu tư tưởng phương Tây khác, vốn được du nhập vào Sài Gòn cùng với quá trình Âu hóa xã hội, chủ nghĩa Marx bén rễ vào vùng đất này trong điều kiện phong trào dân tộc kết hợp với phong trào cộng sản ngay từ những năm 1930 và đã chi phối đời sống chính trị, xã hội, văn hóa trong thời kỳ chống Pháp. Sự hiện diện của chủ nghĩa Marx ở miền Nam trong giai đoạn 1954-1975 là sự kéo dài ảnh hưởng từ trước đó trong một bối cảnh đấu tranh tư tưởng và xã hội gay gắt hơn, dữ dội hơn, và vì vậy mà cách tồn tại của nó trở nên linh hoạt và tinh vi hơn.

Sunday, July 23, 2017

Tìm hiểu vụ ám sát Tạ Thu Thâu

Tấn Đức

Tạ Thu Thâu là một nhà yêu nước, một nhà cách mạng vĩ đại Việt Nam đầu thế kỷ XX. Nhưng, tên tuổi của ông, dù gắn liền với cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp trong hai thập niên 30 và 40, lại ít được giới trẻ Việt Nam biết đến, nhất là những người sinh ra và trưởng thành ở miền Bắc “xã hội chủ nghĩa”. Sử đảng[1] và các văn kiện chính thức của đảng Cộng sản Việt Nam chỉ nhắc đến ông và các đồng chí của ông bằng những lời lẽ bỉ thử, miệt thị và tồi tệ, như “tay sai cho đế quốc Pháp”, “mật thám cho phát-xít Nhật”…

Vậy, sẽ không vô ích nếu chúng ta điểm qua đôi nét về cuộc đời sáng lạn và cái chết bi thảm của một nhà cách mạng ưu tú, đã từng được “Ủy ban nước Pháp của kiều dân, nước Pháp của tự do” (France Des Immigrés, France Des Libertés) chọn để đăng ảnh và tiểu sử trên một bức tường lớn trong mộtcuộc triển lãm long trọng ở Vòm trời hữu nghị (Arche De La Fraternité) tại khu La Défense (Paris) nhân kỷ niệm 200 năm Đại cách mạng Pháp vào năm 1989 [2].

Thursday, July 20, 2017

Diễn biến, chống diễn biến và tự diễn biến hòa bình

Trần Trung Đạo

Tháng 4/1994, trước làn sóng cách mạng dân chủ diễn ra tại Đông Âu, “diễn biến hòa bình” vốn là một đe dọa, đã được Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam đưa lên hàng nguy cơ, và là một trong bốn nguy cơ hàng đầu trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương (khóa VII) tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ. Từ đó đến nay, đại hội X sang đại hội XI cũng như trong các văn kiện đảng, tập huấn, hội nghị, sách vở của nhà xuất bản chính trị quốc gia nhiều lần nhắc nhở đến nguy cơ này.

Định nghĩa “diễn biến hòa bình”

Theo Từ điển Bách khoa xuất bản tại Việt Nam 2005, diễn biến hòa bình được định nghĩa: “Diễn biến hòa bình chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế, được thực hiện dưới một phương thức, thủ đoạn mới để chống phá, đẩy lùi và đi đến xoá bỏ chủ nghĩa xã hội. Đối tượng của chiến lược Diễn biến hòa bình là các nước có khuynh hướng phát triển phi tư bản chủ nghĩa. Bản chất của chiến lược DBHB là chống chủ nghĩa xã hội. Nội dung cơ bản là phá hoại các nước xã hội chủ nghĩa về các mặt chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hoá, xã hội, v.v… Phương thức và thủ đoạn chủ yếu là tạo dựng và thúc đẩy những nhân tố phản động, chống đối từ bên trong, đẩy đối phương vào khủng hoảng toàn diện, từng bước chuyển hoá chế độ chính trị theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa hoặc bị chính các thế lực chống đối dùng bạo lực lật đổ…”

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, ai sẽ nói thay em?

Trần Trung Đạo 

“Nếu bạn im lặng rồi ai sẽ nói” (who will speak if you do not) là câu nói mà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, tức Blogger Mẹ Nấm, dùng để kết luận cho buổi phỏng vấn của phái viên CNN Andrew Stevens ngày 18 tháng 6, 2010 tại Sài Gòn. Chương trình Viet Nam Internet Crackdown được chiếu ở Mỹ và phát đi nhiều quốc gia trên thế giới.


Câu nói là một danh ngôn khá phổ biến từ lâu trong xã hội Tây Phương. Người viết đọc đâu đó rằng chính triết gia Đức gốc Ba Lan Friedrich Nietzsche đã nói mặc dù trong danh sách những câu danh ngôn của ông lại không có câu này. Câu “Nếu bạn im lặng rồi ai sẽ nói” còn là tựa của bài hát của nhạc sĩ Marty Haugen sáng tác năm 1993 và thường được hát trong các lễ nhà thờ đạo Tin Lành.

Tập Cận Bình chủ trương độc chiếm Biển Đông

Trần Trung Đạo 

Người viết xin lỗi dùng tiếng Latin trong bài viết nhưng mục đích là để bàn về khái niệm này trong chủ trương của Tập Cận Bình trên Biển Đông. Ngôn ngữ Latin có một danh từ kép đã trở thành quen thuộc và được dùng nhiều trong chính trị học là “status quo.” “Status quo” chỉ tình trạng của các điều kiện thực tế trước khi có sự thay đổi.

“Status quo” trong sinh hoạt xã hội

Vào thế kỷ thứ 14, danh từ này dùng để chỉ tình trạng hòa bình trước khi chiến tranh bùng nổ giữa hai nước nhưng dần dần được áp dụng trong hầu hết các lãnh vực. Trong các cuộc thảo luận hay tranh luận các bên thường có khuynh hướng chấp nhận một “status quo” và đôi khi còn được xem đó như là một giới hạn mà nếu bị vượt qua sẽ tạo nên nhiều bất trắc.


Trong nhiều trường hợp “status quo” còn dùng để chỉ một tình trạng xã hội tiêu cực, lạc hậu. Khẩu hiệu của các phong trào cách mạng xã hội trong thế kỷ 17 và thế kỷ 18 nhằm thay đổi “status quo” qua đó hạn chế quyền của thiểu số như các quyền dành cho phụ nữ, quyền bầu cử, ứng cử và các tiêu chí xã hội thành văn hay bất thành văn.


Trong đàm phán chính trị, khi hai bên đồng ý duy trì “status quo” có nghĩa là hai bên chấp nhận tình trạng hiện đang là của một điều kiện về quân sự, địa lý, xã hội hay chính trị.

Nền độc tài của một ý thức hệ đã chết

La Thành

Giới thiệu: Ngày 03/11/2010, talawas tròn 9 tuổi và nói lời chia tay độc giả. Đoạn dưới đây là bài viết mà cộng tác viên La Thành của talawas trả lời 3 câu hỏi của talawas. Ba câu hỏi đó là: 
1. Theo anh, 5 vấn đề hệ trọng nhất của Việt Nam hiện nay là gì?
2. Nếu được cầm quyền tuyệt đối tại Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ, anh sẽ làm gì?
3. Hình dung của anh về Việt Nam năm 2010, 2020 và 2030.
Xin mời bạn đọc bài viết của La Thành. Tạp chí Tự Do xin được phép đăng lại.


1. Năm vấn đề tối hệ trọng của nước Việt hiện tại

Người Việt bị tước đoạt ý thức dân tộc: Người Việt đã và đang hoặc tự giác, hoặc bị cưỡng bức từ bỏ ý thức dân tộc. Biểu hiện của điều này khá đa dạng trong sự nhất quán: từ chuyện nước ngoài được tự do tuyên truyền nguỵ-chủ-quyền của họ đối với quần đảo Hoàng Sa trên một website tên miền nhà nước của Việt Nam cho đến chuyện phó thủ tướng Việt Nam dùng cả hai tay để bê một bàn tay của tổng lý quốc vụ viện Trung Quốc, từ chuyện các cuộc biểu tình hoà bình tự phát của công dân Việt chống chủ nghĩa ăn cướp đại Hán bị thẳng tay đàn áp cho đến chuyện mọi tài nguyên Việt – khoáng sản, cơ bắp, chất xám và cả các bộ gien quý (trong đó có các bộ gien mang tên Ngô Bảo Châu và Trần Thị Hương Giang) – đều bị xuất siêu ra nước ngoài, vân vân.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa

Nguyễn Ngọc Chính

Có thể nói, bất kỳ một ngôn ngữ trên trái đất này cũng đều trải qua hình thức vay mượn từ các ngôn ngữ khác. Ảnh hưởng về văn hóa là một trong những tác động chính trong việc vay mượn về ngôn ngữ. Ngoài ra, còn phải kể đến các yếu tố khác như địa lý, lịch sử, chính trị và xã hội trong việc hình thành ngôn ngữ vay mượn.

Miền Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng vốn là một “melting pot”, dễ dàng hòa nhập với các nền văn hóa khác từ tiếng Tàu, tiếng Pháp và cuối cùng là tiếng Anh. Ở đây, xin được bàn về ảnh hưởng của Trung Hoa mà ta thường gọi nôm na là Tàu cùng những biến thể như Người Tàu, Ba Tàu, Các Chú, Khách Trú và Chệt hoặc Chệc.