Showing posts with label Biển Đông. Show all posts
Showing posts with label Biển Đông. Show all posts

Wednesday, March 14, 2018

Toàn cảnh trận chiến Gạc Ma - Cô Lin - Len Đao

Tác giả: Trần Đức Anh Sơn

1. Quần đảo Trường Sa trước trận chiến Gạc Ma - Cô Lin - Len Đao

Sau khi tiếp quản quần đảo Trường Sa từ Việt Nam Cộng hòa vào đầu tháng 5/1975, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (sau đó là Cộng hòa XHCN Việt Nam) tiếp tục thực thi chủ quyền trên quần đảo này. Từ năm 1976, cùng với việc thường xuyên tăng cường lực lượng, vũ khí và phương tiện quân sự cho công tác phòng thủ các đảo, Hải quân Việt Nam đã bắt đầu triển khai xây dựng và củng cố các công trình phòng thủ (công sự, trận địa, hầm hào chiến đấu, đài quan sát, sở chỉ huy…) trên các đảo thuộc quần đảo Trường Sa.

Ngày 14/7/1978, Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ra Quyết định số 478/QĐ-QP, thành lập căn cứ Cam Ranh - Sư đoàn 402, thuộc Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân; với nhiệm vụ xây dựng sở chỉ huy của căn cứ đủ sức bảo đảm cho Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân có thể chỉ huy được lực lượng của mình và chỉ huy tác chiến quân binh chủng hợp thành khi xảy ra chiến đấu ở khu vực Trường Sa.

Về vận chuyển chi viện cho Trường Sa, từ tháng 3 đến tháng 8/1977, Đoàn 125 (Hải đoàn 125) đã chở 2.630 tấn hàng, vật liệu xây dựng cùng với Hải đội 171 hoàn thành kế hoạch vận chuyển 3.730 tấn hàng cho 5 đảo: Trường Sa, Sinh Tồn, Nam Yết, Song Tử Tây và Sơn Ca, phục vụ cho bộ đội phòng thủ đảo và xây dựng các công trình quân sự ở đây.

Trước tình hình Philippines đưa quân chiếm đóng bất hợp pháp bãi An Nhơn và tăng cường hoạt động thăm dò, trinh sát trái phép quanh các khu vực đảo của ta đã đóng giữ (tháng 3/1978), nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, Hải quân Việt Nam đã đưa lực lượng ra đóng thêm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa để tăng cường khả năng củng cố phòng thủ bảo vệ quần đảo này.

Một mặt, Hải quân Việt Nam tập trung các lực lượng tàu vận tải, tàu đánh cá, lực lượng bộ binh của Trung đoàn 146, bộ đội đặc công của Lữ đoàn 126, Trung đoàn Công binh 83 ra chốt giữ bảo vệ các đảo: Trường Sa Đông (Đá Giữa), An Bang, Phan Vinh (Hòn Sập) và Sinh Tồn Đông; mặt khác, chỉ thị cho các đơn vị đang đóng giữ bảo vệ đảo đẩy mạnh các hoạt động huấn luyện, quan sát nắm chắc tình hình trên biển, sẵn sàng chiến đấu và đánh thắng ngay từ trận đầu khi địch có những hành động vũ lực xâm phạm chủ quyền đối với các đảo.

Tuesday, March 6, 2018

Siêu mẫu hạm Mỹ vào Đà Nẵng: Bốn bước ngoặt cuả bang giao Việt – Mỹ

Tác giả: Nguyễn Tiến Hưng

Tác giả nguyên là Tổng trưởng Kế hoạch của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa kiêm cố vấn của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Ông lấy bằng tiến sỹ kinh tế từ đại học Virginia, Hoa Kỳ năm 1965.

***

Khi nghe tin hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson vào Đà Nẵng tháng Ba, 2018, tôi tự hỏi: tại sao không phải Cam Ranh mà là Đà Nẵng, và tại sao lại tháng Ba?

Nhìn lại lịch sử thì ta thấy cái địa danh Đà Nẵng hay gắn liền với những những bước ngoặt của chiến lược Mỹ tại Biển Đông.

Mà kể cũng lạ, những bước ngoặt ấy lại có một sự trùng hợp: đó là nó thường hay xảy ra vào tháng Ba:

  • Tháng Ba, 1965 sau bao nhiêu thẩm định, cân nhắc, Washington đi tới quyết định đưa quân tác chiến vào Việt Nam. Đà Nẵng được chọn làm nơi để bắt đầu. Quyết định này phản ảnh một bước ngoặt quan trọng nhất trong cuộc chiến: sự thay đổi chiến lược từ chiến tranh du kích, chống nổi dậy tới chiến tranh quy ước. 
  • Tháng Ba, 1973: sau Hiệp định Paris, lễ chính thức hạ cờ Mỹ để kết thúc vai trò của quân đội tác chiến tại Việt Nam lại được tổ chức tại sân bay Đà Nẵng. 
  • Tháng Ba, 1975: Tòa Lãnh Sự Mỹ - bộ phận dân sự còn lại của Mỹ - đóng cửa hoàn toàn và rút đi trên con tầu cuối cùng rời cảng Đà Nẵng. 

Bây giờ - tháng Ba, 2018 – siêu hàng không mẫu hạm cập cảng Đà Nẵng. Liệu nó có đánh dấu một bước ngoặt khác hay không? 

 

Trước hết ta nhìn lại những mốc lịch sử của Đà Nẵng liên hệ tới chiến lược của Mỹ:

Việt Nam giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc

Tác giả: Nguyễn Huy Vũ

Ngày 5/3, hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson của Hoa Kỳ viếng thăm Việt Nam đánh dấu một bước mới trong mối quan hệ giữa hai cựu thù Việt Nam và Hoa Kỳ. Gần một năm rưỡi sau khi cầm quyền, chính sách quốc phòng và ngoại giao của chính quyền tổng thống Donald Trump dần định hình. Về mặt cơ bản, chính quyền của tổng thống Donald Trump tiếp tục kế tục chính sách của chính quyền tiền nhiệm trong việc tái bố trí sức mạnh quân sự về châu Á. Tuy vậy, cách tiếp cận của chính quyền Donald Trump khác với chính quyền của Barack Obama.


Sự khác biệt lớn nhất đầu tiên đó là tính bất ngờ trong chiến lược của tổng thống Donald Trump. Giống như những gì ông đã từng biện hộ trong hai cuốn sách của mình, không ai biết rằng chính quyền Mỹ dưới triều Donald Trump sẽ làm gì kế tiếp. Chính vì tính bất ngờ đó mà đối thủ và kể cả các đồng minh đều ở trong trạng thái suy đoán và phòng vệ đối với Hoa Kỳ. Sự bất ngờ và là không chắc chắn trong chiến lược của chính quyền Donald Trump còn thể hiện ở chỗ chính sách đưa ra cho các nước khác nhau sẽ khác nhau, dựa vào lợi ích chiến lược của Hoa Kỳ, chứ không phải dựa trên một khung tiêu chuẩn chung. Lấy ví dụ như Việt Nam và Campuchia. Cả hai nước đều có thành tích vi phạm nhân quyền một cách tồi tệ trong năm qua nhưng Hoa Kỳ hầu như không có sự lên tiếng đáng kể đối với Việt Nam, thậm chí thắt chặt mối quan hệ, trong khi lên án nặng nề Campuchia, cắt các khoản viện trợ và thắt chặt visa của các quan chức đến Hoa Kỳ.

Monday, March 5, 2018

Ba tài liệu mới liên quan đến Biển Đông do một số viên chức cao cấp trong quân lực Hoa Kỳ soạn thảo

Tác giả: Trần Huy Bích

Sau khi Trung Cộng dùng binh lực cướp quần đảo Hoàng Sa từ Việt Nam tháng 1 năm 1974, rồi bộc lộ tham vọng muốn độc chiếm Biển Đông, nhiều cuốn biên khảo về Hoàng Sa, Trường Sa, các đảo, các bãi đá, tài nguyên, cùng tình trạng pháp lý trên Biển Đông đã được học giới quốc tế soạn thảo. Hầu hết tác giả các sách ấy là những nhà nghiên cứu dân sự. Năm 2001, một Hải quân Đại tá của Hoa Kỳ, giáo sư tại National War College ở Washington, DC là Đại tá Bernard D. Cole cho xuất bản cuốn The Great Wall at Sea để trình bày những nghiên cứu của ông về hải quân Trung Cộng. Cuốn sách rất được chú ý và đã Học viện Hải quân Hoa Kỳ tại Annapolis, Maryland tái bản với những cập nhật cần thiết năm 2010. Nhưng nội dung cuốn ấy cũng chỉ trình bày chính sách bành trướng của Cộng sản Trung Hoa một cách khái quát, rồi đến việc tổ chức hải quân, các loại tàu, tàu ngầm, máy bay yểm trợ, các loại võ khí. Sang lãnh vực nhân sự, cuốn sách nói tới cơ cấu tổ chức, các chuyên viên, việc huấn luyện, và thể thức điều động của hải quân Trung Cộng.





The Great Wall at Sea: China’s Navy in the 21st Century

2nd ed. Annapolis, MD : Naval Institute Press, 2010

Tuesday, August 1, 2017

Khủng hoảng Biển Đông lần thứ hai

Nguyễn Quang Dy

“Muốn hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh” (Si vis pacem, para bellum).
Nếu sự kiện dàn khoan HD 981 (5/2014) tạo ra cú sốc và một bước ngoặt lớn trong quan hệ Trung-Việt, đánh dấu “khủng hoảng Biển Đông lần thứ nhất”, thì đối đầu Trung-Việt đang diễn ra tại bãi Tư Chính (Vanguard Bank) từ giữa tháng 6/2017, có thể là “khủng hoảng Biển Đông lần thứ hai”. Lần thứ nhất, Trung Quốc đã xô đẩy Việt Nam xích lại gần Mỹ, và thúc đẩy Mỹ phải xoay trục sang Châu Á. Lần thứ hai, Trung Quốc đang thúc đẩy Mỹ-Nhât-Ấn-Úc liên minh tại Biển Đông và xô đẩy Việt Nam trở thành đồng minh. Đó là “hệ quả không định trước”, và là cái giá cho tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc.

Dấu hiệu bất thường

Trong cuộc khủng hoảng dàn khoan HD 981, không khí sôi sục, thậm chí bạo động chống Tàu nổ ra tại các khu công nghiệp Bình Dương và Vũng Áng. Nhưng những gì đang diễn ra liên quan đến khủng hoảng tại bãi Tư Chính lần này có vẻ bí ẩn và ngấm ngầm. Trong khi báo chí chính thống không đưa tin, chính phủ các nước liên quan cũng hầu như nín lặng (kể cả Việt Nam, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Mỹ, Ấn, Nhật). Trong khi dư luận trên các trang mạng xã hội bức xúc đoán mò, báo chí quốc tế cũng đưa tin lấp lửng, thậm chí trái ngược nhau (như BBC và Reuters). Các chuyên gia về Biển Đông cũng đánh giá khác nhau. Trong khi Alexander Vuving và những người khác còn dè dặt, thì Bill Hayton khẳng định Hà Nội đã đầu hàng vì Washington bỏ rơi Việt Nam, để mất Biển Đông vào tay Trung Quốc (Bill Hayton, “The Week Donald Trump Lost the South China Sea”, Foreign Policy, July 31, 2017)

Có thể nói hiện tượng thiếu hụt thông tin (information deficit) là một dấu hiệu bất thường và bất ổn, do chính quyền và các bên liên quan không minh bạch thông tin. Nếu đúng là Việt Nam cam kết với Trung Quốc sẽ không bao giờ khoan nữa, thì việc yêu cầu Repsol dừng lại là một “chứng cứ thực tế” (de facto evidence) bất lợi cho Việt Nam trong tương lai khi phải đấu tranh pháp lý với Trung Quốc sau này. (Theo luật sư Hoàng ngọc Giao, viện PLD)

Tuesday, January 24, 2017

Những Hệ Quả từ Phán Quyết của Toà Trọng Tài Tháng 7/2016

NGUYỄN ĐĂNG THẮNG
National Asian Security Studies Program Issue Brief, Issue 1, No. 5.2 (2016)
Biên dịch: Trần Thị Kim Nguyên
======================

Đặt vấn đề

Trong suốt một khoảng thời gian, những nỗ lực quản lý tranh chấp và thúc đẩy hợp tác trên Biển Đông đã bị cản trở vì thiếu vắng việc xác định một cách công bằng về mặt địa lý của những vùng biển tranh chấp và không có tranh chấp trong Biển Đông. Phán quyết của Tòa Trọng tài vào ngày 12/7/2016 trong vụ kiện Biển Đông do Philippines khởi xướng kiện Trung Quốc đã chấm dứt cho tình trạng đó và từ đó mở ra cơ hội hợp tác mới cho các quốc gia trong khu vực. Trong khi còn bỏ ngỏ một số tranh chấp về chủ quyền – đơn giản vì Tòa Trọng tài không có thẩm quyền đối với loại tranh chấp này – Phán quyết làm sáng tỏ các tranh chấp trên Biển Đông một cách hữu ích và tạo dựng một cục diện pháp lý mới. Bài viết này giải thích ý nghĩa của Phán quyết đối với các quốc gia ven Biển Đông và mạnh dạn đưa ra vài đề xuất về chính sách và hành động cho các quốc gia đó trong tương lai.